Thứ Hai, ngày 23 tháng 9 năm 2013

ĐẠO GIÁO THẦN TIÊN VÀ LÃO TỔ CỦA ĐẠO THẦN TIÊN

ĐẠO GIÁO THẦN TIÊN  VÀ LÃO TỔ CỦA ĐẠO THẦN TIÊN

 
Đạo giáo (tiếng Trung: 道教), Giáo lí về Đạo
 
 
Thần Nông Viêm Đế
 
 
Thái Thượng Lão quân hay còn gọi là Đạo Đức Thiên tôn là vị thần tối cao nhất trong giới thần tiên. Có trước trời đất và vũ trụ, là vị Thần trường sinh bất tử, Thống ngự thiên địa càn khôn. Tạo ra vạn vật của thế gian.
Là vị Thần tiên thần thông quảng đại, có thể biến hóa vạn vật, thần tiên cứu độ cho chúng sinh. Giải cứu cho những kẻ bất hạnh, những người đang chịu khổ, chịu nạn chỉ cần khấn hoặc gọi tên vị thần là Đạo Đức Thiên Tôn thì sẽ được vị thần giúp đỡ. Biến hung thành cát. Có khi vị Thần ở Thiên cung, Địa ngục, khi hạ giáng xuống nhân gian. Hóa thành Tiên đồng, Ngọc nữ, Đế quân, Thánh nhân, Thần tài, Phật thiên y, Công tào, Thần mưa, Thần gió.....
Đạo Đức Thiên Tôn truyền kinh pháp nhằm cứu độ chúng sinh trong cơn hoạn nạn, những người đang gặp nguy khốn, chịu khổ trên chốn nhân gian và truyền thụ cho những người ở tại Hạ giới có tiên duyên. Học và luyện, nắm giữ được đạo trời có thể kéo dài tuổi thọ, trừ họa được phúc, không làm chuyện độc ác có thể hành đạo. Ngay cả các bậc đế vương cũng thực hành lấy đạo, giáo hóa cho dân chúng. Tu đạo bảo hộ con người trên thế gian, các quốc gia công thổ, đất nước yên lành. Làm ăn thịnh vượng, bình an. Con người khỏe mạnh trường thọ. Các vị chân nhân tụng kinh và học pháp đã tu luyện đắc đạo thành tiên truyền rằng:
Như ông Bành Tổ hiểu được phương pháp dưỡng sinh, đắc đạo thành tiên 780 tuổi cơ thể không bị suy lão Ông nói với Thái Nữ 267 tuổi rằng: Một Chân nhân tu đắc đạo có thể nhìn thông Thiên Địa, mắt trái xem thiên cơ, mắt phải xem địa lý. Tai nghe vạn vật, ngăn chặn tai ách cứu độ chúng sinh. Không cánh có thể bay, có thể cưỡi rồng lên chốn Thiên Đình, đi qua lửa, xuyên qua núi cao biển cả, đứng trước chốn đông người không ai biết, ẩn thân vào thảo mộc. Tiêu diêu tự tại cứu tế cho bách tính.

Bắc Đẩu tinh quân nói:
       Nhà nào hiểu và ngộ được thần tiên thì tai chướng chẳng xâm, chư thánh giữ cửa. Người chết dưới địa phủ được thăng thiên. Mộ phần kết phát, con người thanh tú, hạnh minh đa đinh đông người. Ngũ lộ thần tài chỉ lối. Văn Xương ban pháp học danh. Thần lên Thượng giới Triều Bái cao chân công đầy, đức thành. Tương cảm đế quân. Tụng Kinh linh ứng nâng mây tím mà lên trời. Có câu rằng: Nhất nhân đắc đạo Kê, Khuyển cũng thăng thiên.

Tử Vi Đại Đế nói:
Pháp thuật thần tiên phù Diệu Kinh
Người biết, người hiểu, có người không
Linh ứng Thần thông do người ngộ
Bên trong huyền diệu ít người hay
Phép Tiên có chứa Trường sinh tửu
Không biết người phàm uống hay chưa?


THẦN TIÊN 

VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC CON RỒNG CHÁU TIÊN  
Bảng danh sách các vị Thần Tiên, Tướng, Thần y, Thần Số, Tổ Phụ, Tổ Mẫu....có công với nước được dân gian lưu truyền và biết ơn cho tới
ngày nay.

THẦN NÔNG VIÊM ĐẾ 
HOÀNG ĐẾ
KINH DƯƠNG VƯƠNG
LẠC LONG QUÂN
ÂU CƠ

HÙNG VƯƠNG
TẢN VIÊN SƠN THÁNH
BẠCH MÃ THẦN
PHỔ AM CHÂN NHÂN
THÔNG HUYỀN CHÂN NHÂN
KINH DƯƠNG VƯƠNG
ĐẾ MINH
VỤ TIÊN
ĐỘNG ĐÌNH QUÂN
THẦN LONG
HY HÒA
HY THÚC
HY TRỌNG
CAO LỖ

BÀ CHÚA LIỄU HẠNH
TRẦN TOÀN (phục ma thượng đẳng phúc thần)
PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
CHỬ ĐỒNG TỬ
TIÊN DUNG
NAM VIỆT VƯƠNG
THÁI VI TINH QUÂN
KHAI THIÊN THỂ ĐẠO THÁNH VŨ THẦN TRIẾT HOÀNG ĐẾ
BẠCH Y MÁN
VĂN DU TƯỜNG pháp sư (đời Đinh Tiên Hoàng)
LƯU ĐẠO HUYỀN (đạo sỹ, SỰ TÍCH TRẦU CAU)
LANG LIÊU
TRIỆU QUANG PHỤC
MAI AN TIÊM (TÂY QUA PHỤ MẪU)
AN VƯƠNG (ĐỊA PHỦ QUÂN)
MA CÔ (lĩnh nam chích quái)
THÔI VỸ
ỨNG HUYỀN đạo sỹ
DƯƠNG QUAN NHÂN
THANH GIANG SỨ GIẢ (KIM QUY)
SÓC THIÊN VƯƠNG
BẠCH HẠC GIANG THẦN
LONG ĐỖ THUẬN DỤ TỰ ỨNG ĐẠI VƯƠNG
VUA MÂY KHAI THIÊN THÀNH HOÀNG ĐẠI VƯƠNG
TRINH LIỆT TÁ LÝ PHU NHÂN
ỨNG THIÊN HẬU THỔ THẦN KỲ NGUYÊN QUÂN
VỌNG PHU SƠN THẦN
VƯƠNG CHẤT
THẦN CHÂU LONG QUÂN
LONG ĐÀM
PHÙNG HƯNG
HỒNG LĨNH SƠN THẦN
MINH LINH CẢM ỨNG BẢO HỰU ĐẠI VƯƠNG
MỤC THẬN
THƯỢNG ĐẲNG LINH SẢNG BẤT DẪN NHẤT PHƯƠNG PHÚC THẦN
TRINH LINH NHỊ PHU NHÂN
LÊ TOÀN NGHĨA
TRẤN THIÊN VƯƠNG
TỪ ĐẠO HẠNH (10 năm học đạo giáo, LÝ THẦN TÔNG)
TINH MẪN ĐẠI VƯƠNG
KHƯỚC MẪN ĐẠI VƯƠNG
HÀ BÁ
  
LÝ THỜI TRÂN
NGUYỄN BỔ (đường lang tử y)
HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

TRẦN ĐỨC HUY
TRẦN CAO VÂN (đạo sỹ)
PHAN XÍCH LONG
MẠC CỬU
MẠC ĐÌNH PHÚC
VÕ TRỨ
NGUYỄN HỮU TRÍ
TRẦN QUỐC KIỆT
TẢ AO
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
NGUYỄN THIẾP
HUYỀN VÂN
TỪ THỨC
TÔ LỊCH GIANG THẦN
THẦN ĐỘC CƯỚC
LÝ ÔNG TRỌNG (LÝ THÂN)
TRẦN HƯNG ĐẠO
TRẦN TU
PHẠM VIÊN
NGUYỄN HOÃN
PHAN HUY ÍCH
NGUYỄN CÔNG TRỨ
TAM GIANG PHÚC THẦN
 ( Các vị đều là những thần tiên của Việt Nam, là nguyên khí tinh túy của các vì sao trên trời đầu thai xuống nhân gian. Là những người trần do tu luyện mà thành. Có công với đất nước, với dân tộc Việt Nam, lập nên những chiến công hiển hách và được phong vương, phong thánh, phong thần. Đã từng nghiên cứu ra những văn minh, tri thức bất hủ để lại cho đời mà chỉ có những bậc tối cao, thần thánh cao nhân mới có được. Nên được người đời lưu truyền sử sách, nơi nơi lập điện thờ,  là tấm gương sáng để lại cho các thế hệ sau noi theo. Con cháu muôn đời hương hỏa. )
 


Thần Nông Viêm Đế


Câu hỏi tại sao người Việt nhận là con cháu của Thần Nông, một trong những ông vua đầu tiên của Trung Hoa là vấn đề được nhiều người tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu hiện nay, dựa trên các dữ liệu về sử học, thần thoại học, ngôn ngữ học, đã giả thiết rằng Thần Nông là một vị thần có nguồn gốc từ phương nam (từ phía nam sông Dương Tử xuống đến hết Việt Nam ngày nay, đó là vùng đất cư trú của cư dân Bách Việt). Sau khi nước Trung Hoa mở rộng từ phía tây sang phía đông (giai đoạn một), rồi từ phía bắc xuống phía nam (giai đoạn hai) thì Thần Nông được người Trung Hoa sát nhập vào văn hóa của họ và được coi là một trong các "ông vua" đầu tiên của họ[cần dẫn nguồn]. Thực ra trước đó, Thần Nông đã được coi là "ông tổ" của một số bộ tộc Bách Việt. Và sau này, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa rất mạnh, nhiều người lầm tưởng người Việt nhận một ông vua Trung Hoa làm ông tổ của mình.


-----------------------***------------------------

Sách Đạo Giáo tri thức cơ bản có đoạn mở đầu:
Đạo giáo đúng như một nhà nghiên cứu người Pháp đã nhận định:
Khi anh hỏi một người Việt Nam vậy y có phải là tín đồ Phật giáo không, thì người đó có thể trả lời ngay: Vâng tôi là người theo đạo Phật, dường như đạo Phật là một nét đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Còn nếu như anh ta hỏi một người Việt Nam vậy y có phải là tín đồ Đạo Giáo không, thì người ấy chẳng hiểu gì hết; song nếu anh đặt một câu hỏi khác, hỏi y có biết Ngọc Hoàng , có biết Nam Tào, Bắc Đẩu, có biết 12 thiên tướng không thì y sẽ ngay lập tức trả lời cho anh rằng: biết chứ! Người Việt Nam theo Đạo giáo mà không biết rằng đó là Đạo Giáo.

Trích cuốn sách "Đạo Giáo tri thức cơ bản" của Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Cường do NXB Từ Điển Bách Khoa xuất bản.

Nghi lễ Thần Nông gốc Tổ người Lạc Việt và văn hóa lễ Thần Nông trên Thế giới

Đạo Giáo Thần Tiên
11300_101474733376593_1010590263_n.jpg

 

Nghi lễ Thần Nông gốc Tổ người Lạc Việt và văn hóa lễ Thần Nông trên Thế giới


Lịch sử Việt Nam


Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa), gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam), xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỉ. Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỉ vào năm Nhâm Tuất 2897 TCN, lấy con gái Động Đình Hồ quân (còn có tên là Thần Long) là Long nữ sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ, sinh một lần trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.
Huyền thoại
Thần Nông cày đồng. Tranh trên tường thời nhà Hán.
Trong thần thoại Trung Quốc, Thần Nông sống cách đây khoảng trên 5.000 năm và là người đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ Lễ Tịch Điền (còn gọi là lễ Thượng Điền, tổ chức sau khi gặt hái, thu hoạch mùa màng) hoặc Hạ Điền (lễ tổ chức trước khi gieo trồng), cũng như nghề làm thuốc trị bệnh, cho nên trong dân gian có câu Thần Nông giáo dân nghệ ngũ cốc, ngoài việc là ông tổ nông nghiệp, người đã dạy dân trồng ngũ cốc và chế tạo ra cày bằng gỗ, ông tổ nghề gốm sứ và nghề y dược. Một khác biệt giữa huyền thoại và khoa học được thể hiện trong sách cổ: Khi con người chưa biết trồng cấy lương thực.Thần Nông chính là Thượng thanh linh bảo thiên tôn Tiên giới nghĩa xu quyển thất dẫn thái chân khoaTức viêm đế. Tam hoàng ngũ đế chi nhất, giáng trần dạy nhân gian việc nhà nông. Để trợ giúp Thần Nông khi sơ khai Ngọc Hoàng sai chim Khổng Tước mang năm loại hạt (gọi là ngũ cốc thần) dâng cho Thần Nông làm hạt giống dạy cho người dân gieo hạt, cấy trồng. Ông đã hiện thân nhiều lần xuống nhân gian dạy những bài thuốc bí truyền từ cỏ cây. Ông đã để lại cuốn sách "Thần Nông Bản Thảo Kinh" và nhiều pho sách quý.
Qua những trải nghiệm, Ông đã nghiên cứu ra 450 căn bệnh mà con người thường mắc phải. Những căn bệnh nan y Ông đã dùng Thảo dược chữa trị đều linh nghiệm ông là người đầu tiên phát hiện ra thảo dược quý là Nấm Linh Chi và Nhân Sâm ngàn năm, được ghi chép lại truyền cho đời sau (đó là cuốn Thần Nông Bản Thảo Kinh). Tất cả các Thần y, Danh y đều học cuốn sách này. Chính cuốn sách này là bản gốc cho cuộc đời nghiên cứu y thuật của mình.Thần Nông được tôn kính như là ông tổ của y học Trung Hoa. Ông cũng được coi là người đã đề ra kỹ thuật châm cứu. (Sách Thần Nông)

Lễ Thần Nông
Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong được mùa và nghề nông phát đạt.
Trên các quyển lịch cổ hàng năm, người ta thường vẽ một mục đồng dắt một con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, còn con trâu tượng trưng cho nghề nông.
Hình mục đồng cũng như con trâu thay đổi hàng năm tùy theo sự ước đoán của Khâm thiên giám về mùa màng năm đó sẽ tốt hay xấu.
Năm nào được coi là được mùa, Thần Nông có giày dép chỉnh tề, còn năm nào mùa màng bị coi là kém, Thần Nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ đi giày một chân. Con trâu được đổi màu tùy theo hành của mỗi năm, nó có thể có một trong 5 màu vàng, đen, trắng, xanh, đỏ đúng với các hành Thổ, Thủy, Kim, Mộc, Hỏa.
Thời phong kiến, hàng năm đều có tục tế và rước Thần Nông tại triều đình cũng như ở các địa phương.
Nghi thức lễ tế Thần Nông thời Nguyễn
Lễ tế Thần Nông hàng năm cử hành vào ngày Lập xuân, bởi vậy nên lễ tế Thần Nông còn được gọi là tế xuân.
Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng, hàng năm sau tiết Đông chí, tòa Khâm thiên giám phải lo sửa soạn việc tế Thần Nông. Các quan cùng nhau họp để nặn trâu và tượng Thần Nông.
Trước ngày lập xuân hai ngày, tại gần cửa thành Đông Ba (ngày nay là cửa chính Đông), các quan Khâm thiên giám cho lập một cái Đài hướng đông. Trâu và tượng Thần Nông cũng được đưa tới lưu tại phủ Thừa Thiên để ngày hôm sau các quan trong phủ mới rước từ phủ tới Đài. Các quan vận lễ phục, có quân lính mang gươm giáo, tàn lọng, cờ quạt theo hầu.
Tới Đài thì một lễ đơn giản được cử hành, ngụ ý trình với Thổ Công về sự hiện diện của tượng Thần Nông và trâu. Sau đó, trâu và tượng Thần Nông lại được khiêng về kho cất. Hôm tế xuân, tượng và trâu lại được rước ra Đài, nhưng lần này đi rước là các quan bộ Lễ và các quan phủ Thừa Thiên. Khi đám rước đi qua cung vua, một viên thái giám vào tâu để vua biết. Sau đó, đám rước lại tiếp tục đi và khi đi qua bộ Lễ, một viên quan đánh vào mông trâu ba roi, có ý thôi thúc trâu phải làm việc.
Tới Đài, các quan làm lễ tế Thần Nông theo như nghi lễ các cuộc tế khác. Tế Thần Nông xong, trâu và tượng Thần Nông được quân lính mang đi chôn sau buổi lễ.
Tại các tỉnh, trong ngày Lập xuân cũng có lễ tế Thần Nông và lễ cũng được sửa soạn từ sau ngày Đông chí. Các quan tỉnh phụ trách việc hành lễ. Trâu và tượng Thần Nông cũng được đem chôn.
Lễ tế Thần Nông của các dân tộc khác
Người Dao Tuyển, để cảm tạ công ơn và cầu xin cho mùa màng bội thu, nhà nhà hạnh phúc thì lễ hội ngày 6 tháng 6 âm lịch là ngày cúng Thần Nông lớn nhất trong năm. Ngoài ra họ còn thờ cúng Thần Nông vào các ngày 1 tháng 1 âm lịch và 9 tháng 9 âm lịch hàng năm.
Hình ảnh văn hóa các nước tế lễ thần nông (Ngũ Cốc Thần) cầu cho nhân gian cả năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bệnh tật tan biến, nơi nơi hòa bình và an khang.


Câu hỏi Thần Nông Viêm Đế

Câu hỏi tại sao người Việt nhận là con cháu của Thần Nông, một trong những ông vua đầu tiên của Trung Hoa là vấn đề được nhiều người tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu hiện nay, dựa trên các dữ liệu về sử học, thần thoại học, ngôn ngữ học, đã giả thiết rằng Thần Nông là một vị thần có nguồn gốc từ phương nam (từ phía nam sông Dương Tử xuống đến hết Việt Nam ngày nay, đó là vùng đất cư trú của cư dân Bách Việt). Sau khi nước Trung Hoa mở rộng từ phía tây sang phía đông (giai đoạn một), rồi từ phía bắc xuống phía nam (giai đoạn hai) thì Thần Nông được người Trung Hoa sát nhập vào văn hóa của họ và được coi là một trong các "ông vua" đầu tiên của họ[cần dẫn nguồn]. Thực ra trước đó, Thần Nông đã được coi là "ông tổ" của một số bộ tộc Bách Việt. Và sau này, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa rất mạnh, nhiều người lầm tưởng người Việt nhận một ông vua Trung Hoa làm ông tổ của mình.


Văn hóa Thế giới với nghi lễ Thần Nông Viêm đế

1_110309235154_1.jpg


1192359173648042-1192359199319142.jpg
4262094097354083957.jpg
1306625236912.jpg
95_11_0_20100812204446.jpg
1306574584064179-1306574584071235.jpg
1411593030-0.jpg
95_11_0_20111014191933.jpg
 8299f47344024d77ac1ea289f0015b64.jpg
1306574584064179-1306574584068637.jpg 
11046397_391920.jpg 
 1119988932332883733.jpg20104511245931.jpg
 77021273438466140.jpg
 20120518072409673.jpg2010525102350973.gif
 200910301917441135.jpgW020100813409509890527.jpg
 11946443260963251280.jpg
 4262094097354083957.jpg
 cms_ac953cb5ab964d63bd3ac7f1254c4d94.jpg
1306574584064179-1306574584066518.jpg
1306574584095400-1306574584109759.jpg
 W020070523779679457556.jpg
 YenDi.jpgW020081225210342844844.jpg
 734486223248405941.jpg
 W020110526599199331717.jpg
 X1030059062.jpg
 cms_ac953cb5ab964d63bd3ac7f1254c4d94.jpg
1964754790558250553.jpg 
W020110531374598954280.jpg
bjydl2009-5-12-4.jpg

Ông Tổ Pháp Thuật Thần Bí Của Người Lạc Việt


Thần Tiên Việt Nam


THỦY TỔ HÙNG VƯƠNG HOÀNG ĐẾ


雄王神仙-越南道教 

Ông Tổ Pháp Thuật Thần Bí Của Người Lạc Việt


Trong “Việt Sử lược” (Bộ sử khuyết danh viết vào khoảng thế kỷ XV, sau này Toàn Thư thời nhà Thanh trích dẫn: "Thời Chu Trang Vương (khoảng thế kỷ IX trước Công nguyên) ở vùng Giang Ninh có một dị nhân có khả năng dùng phép thuật thần kỳ để thuần phục các bộ lạc ở đó và tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang và đặt quốc hiệu là nước Văn Lang, biết cách ghi chép sự kiện bằng cách thắt các nút dây thừng và biết làm chính trị, truyền được 18 đời tự gọi là Hùng Vương".
Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ kể rằng .Lúc bấy giờ ở đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không một nơi nào yên ổn, Lạc Long Quân quyết chí đi du ngoạn khắp nơi........Đến bờ biển đông nam diệt được ngư tinh........ Đến Long Biên dẹp được Hồ Tinh là chồn tinh hóa thành người để hại dân chúng, nơi ở của Hồ tôn tinh sau khi bị Lạc Long quân diệt đã trở thành đầm Xác Cáo ngày nay gọi là Tây hồ...... Lại đi ngược lên vùng rừng núi đến đất Phong Châu có cây cổ thụ gọi là Chiên Đàn sau bị khô héo mà biến thành Mộc tinh luôn thay đổi hình dạng để bắt người ăn thịt. Để cứu dân Lạc Long Quân phải dùng đến những nhạc cụ như chiêng, trống ..làm nó khiếp sợ phải chạy về phía Tây nam sống quanh quất ở vùng đó, người ta gọi là Quỷ xương cuồng”.
Lại có chuyện kể rằng diệt xong yêu quái Lạc Long Quân dạy cho dân cách trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm , đốn gỗ làm nhà sàn để ở. Dân chúng dựng cho Lạc Long quân một cung điện trên ngọn núi cao. Sống ở cung điện trên núi một thời gian Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ hóa rồng bay về biển cả. Ít lâu sau Âu Cơ gọi Lạc Long quân trở về. Đó là lúc chia con, 50 con theo cha, 50 con theo mẹ, người con trưởng được ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang.lấy hiệu là Hùng Vương.
Sách An Nam chí lược chép: thủ lĩnh bộ lạc Phong Châu là Hùng Vương nhờ có phép thuật mà chinh phục được các bộ lạc khác, mở nước Văn Lang. Trong bộ máy cai trị từ thượng cổ đã có Lang Cun trông nom cai trị, nắm chính quyền, Lang Đạo lo việc nghi lễ, cúng bái.
Theo sách Địa chí Thái Bình có ghi trên 100 xã (cũ) thờ Cao Sơn Đại Vương, các bản thần tích đều chép: “Quý Minh Đại Vương là thân đệ của Tản Viên sơn thánh và Ma Hà, các thần đã xuống vùng biển mộ quân đánh lại Ai Lao bộ chúa. Có trên 50 vị phúc thần tương truyền là tướng thời Hùng Vương.
Thần phả đền Tam Tòa (Thụy Trường, Thái Thụy) chép: “…Tương truyền rằng có một năm trời làm hạn hán, vua Hùng sai lập đàn cầu mưa nhưng không có linh nghiệm. Nghe nói có 2 vị thần làng Chỉ Bồ và Tam Tri có tài làm mưa gió, liền triệu về kinh. Vâng theo thánh chỉ, Trần Đông, Trần Điển vào bái yết Vua Hùng.Lập tức
Vua sai hai vị thần hô mưa gọi gió, bỗng một trận mưa như trút xuống hoàng cung và mưa toàn nước mặn, cây cối trong vườn thượng uyển tự nhiên héo rũ. Hùng Vương quở trách: “Trẫm sai làm mưa để cứu mùa màng, nay chẳng có nước ngọt, cây vườn thưởng uyển chết hết, khanh lấy gì đền trẫm đây”. Hai thần lạy: Vì bệ hạ không lệnh rõ làm mưa nước mặn hay ngọt, thần ở biển về xin dâng nước biển, nay đã rõ, xin sửa lỗi… Hai thần tiếp tục làm phép “hô phong hoán vũ”; mưa như trút, rửa sạch muối mặn. Cây cối lập tức tưới xanh như cũ. Vua phong tước cho hai thần, sai đi trừ hạn hán. Thần đi đến đâu mưa lành đến đấy…
Lạc Long Quân trong truyền thuyết không phải là tên người mà là tên gọi chung cho các vị thủ lĩnh của một dòng tộc trong một thời đại như Viêm đế, Hoàng đế, họ Thần Nông, Kinh Dương Vương, Hùng Vương, dòng dõi biết nhiều phép thuật nhất từ âm dương, kinh dịch, thông thiên độn toán, hô mây gọi gió, phép chữa bệnh, trị bệnh và rất nhiều phép thuật cổ xưa truyền lại đến ngày nay.
(Nghiên cứu sách Thần Nông Đại pháp toàn thư .Thần Nông Bản Thảo kinh.Thần Nông Tiên  thuật. Thần Nông phong thủy bí truyền. 100 quẻ xăm Thần Nông linh nghiệm. Thần Nông độn toán minh thi. Thần Nông ngũ cốc chân kinh. Thần Nông Tiên Đế đại pháp mật truyền. Thần Nông dưỡng sinh. Thần Nông Đại Đế chân kinh ). Đây là những pho sách kinh điển. Ai có tiên duyên đọc được, ngộ được đắc đạo thành chân tiên, chân nhân. Nâng mây tím bay về trời, có câu rằng: Nhất nhân đắc đạo kê khuyển cũng thăng thiên.

Câu hỏi Thần Nông Viêm Đế

Câu hỏi tại sao người Việt nhận là con cháu của Thần Nông, một trong những ông vua đầu tiên của Trung Hoa là vấn đề được nhiều người tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu hiện nay, dựa trên các dữ liệu về sử học, thần thoại học, ngôn ngữ học, đã giả thiết rằng Thần Nông là một vị thần có nguồn gốc từ phương nam (từ phía nam sông Dương Tử xuống đến hết Việt Nam ngày nay, đó là vùng đất cư trú của cư dân Bách Việt). Sau khi nước Trung Hoa mở rộng từ phía tây sang phía đông (giai đoạn một), rồi từ phía bắc xuống phía nam (giai đoạn hai) thì Thần Nông được người Trung Hoa sát nhập vào văn hóa của họ và được coi là một trong các "ông vua" đầu tiên của họ[cần dẫn nguồn]. Thực ra trước đó, Thần Nông đã được coi là "ông tổ" của một số bộ tộc Bách Việt. Và sau này, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa rất mạnh, nhiều người lầm tưởng người Việt nhận một ông vua Trung Hoa làm ông tổ của mình.
  

 so_to_hung_vuong_hh332kj3.jpg
Hùng Vương Hoàng Đế Chân Kinh

Hùng Vương Chân Kinh

Khấn

Việt Nam Quốc: Địa chỉ ... Năm... tháng... ngày...
Tín Sỹ: ......
Nam Quốc Hùng Vương

Chí tâm quy mệnh lễ
Chúc hương thần chú
Đạo do tâm học . 
Tâm giả hương truyền . 
Hương nhiệt ngọc lô tâm tồn đế tiền
Chân linh hạ phán
Tiên cáo lâm hiên. 
Kim thần quan cáo kính đạt cửu thiên
Thiên địa Huyền Tông. 
Vạn khí bản căn
quảng tu ức kiếp
chứng ngô thần thông .
tam giới nội ngoại. 
Duy đạo độc tôn. 
Thể hữu kim quang
Phục ánh ngô than. 
Thị chi bất kiến .
thính chi bất văn .
bao la thiên địa. 
Dưỡng dục quần sinh. 
Thụ trì vạn biến
thân hữu quang minh
Tam giới thị vệ
Ngũ Đế tiên  nghênh 
Vạn thần triều lễ. 
Dịch sử lôi đình. 
Quỷ yêu táng đảm. 
Tinh quái vong hình
nội hữu phích lịch
Lôi thần ẩn danh. 
Đỗng tuệ giao triệt
ngũ khí đằng đằng. 
Kim quang tốc hiện
phục hộ chân nhân
Cấp cấp như luật lệnh
Khai kinh kệ
Huyền nguyên thủy khí.
Phân thanh hóa Khai đỗng thần linh .
phong .hồi thái hòa.  
Ngọc phổ nhiếp ma .
tinh chí tai bản .
tự nhiên thùy thức thử u văn
Nam Quốc Hùng Vương Chân Kinh
Chí tâm quy mệnh lễ
Xưa kia trời Nam mở vận
Sông núi Chẩn, Dực phân minh
Lệnh vua cha chiếu chỉ Thiên Đình
Lấy nghĩa lĩnh trùng tu điện miếu
Gọi Phương Nam bách Việt linh từ.
Thái Bạch nhận lệnh tờ chiếu chỉ
Lạc Long do Thần Nông chuyển thế
Lấy Âu Cơ, Vương mẫu Linh Truyền
Âm dương trời đất ứng  Thiên
Bọc tiên khai nở một lần trăm con
Năm mươi con, Tiên Rồng cai quản
Năm mươi con, Tiên Hạc ngự cai
Nay thiên địa tự khai hai cực
Trên trời 36 đức thiên cang
Dưới âm địa sát, 72 rõ ràng
Giữa nhân gian xuất hiện ngai vàng
Chờ vua Hùng dáng trần thiên tử.
Ngồi ngai vàng tỏa vạn hào quang
Một tiếng sấm vang ầm chuyển động
Ánh hào quang sáng lộng Tây Đông
Trăm hoa đua nở ánh hồng
Khắp mặt đất Long, Ly, Quy, Phượng
Tiếng sáo đàn thiên thượng du dương
Khâm tuân Ngọc chỉ Hùng Vương dáng trần
Dáng uy nghi phẩm trần tôn quý
Thực là Vua, là Thánh thần vương
Hùng Vương thánh đế minh quân
Lập đàn bái lạy Hoàng thiên
Bách quan văn võ đứng chầu
Cảm ơn thiện địa nhiệm màu
Vạn vật thế gian từ đây tạo hóa
Nhân hữu tử - Tử hữu sinh
Vị liễu nhân hồi sinh vạn vật
Sinh Thiên, sinh Địa, sinh Nhân.
Sinh Người, sinh Thánh, sinh Thần, sinh Tiên
Phép thần thông vô biên vô lượng
Giữ nòi giống con lạc cháu hồng
Dạy người trần tu nhân, tu đức
Ngọc Hoàng ban năm sắc mây lành
Dưới nước Nam vua Hùng nhận lệnh
Gươm thần thiêng trảm diệt tà ma
Vua hiền đức ban lành bốn biển
Phép oai vang động khắp muôn phương
Vua kính, tôi trung nước phú cường
Hiển ứng nhiệm màu lẫm liệt 9 châu
Địa bi - Đại nguyện giải sầu
Phép thần thông cải tử hồi sinh
Ban cho thiên hạ thái bình ấm no
Khắp bốn phương mưa gió thuận hòa
Chẳng binh đao, thủy, hỏa can qua
Chẳng bệnh tật, thiên tai, địa kiếp
Dưỡng dục quần nhân, dân an nước mạnh
Hưởng phúc muôn đời đất nước rồng tiên
Lưu danh thế giới vạn bang
Vua Hùng giữ nước Nam Bang muôn đời
Tháng 3 ngày mùng 10 giỗ tổ
Nước Nam ghi vào sổ bái tâu
Thành tâm sở nguyện khấn cầu
Cầu cho Nam quốc bốn phương
Dân giàu nước mạnh an khang thái hòa
Nam quốc Hùng Vương khai thiên lập địa
Đại đức từ bi cứu dân độ thế
Tứ sinh lục đạo hữu cảm tất phù
Tam giới thập phương vô cầu bất ứng
Nam quốc hữu linh tài đạo lưu vạn kiếp
Hương hỏa hiển thánh tích vu vân động
Ký huyền đồng chi đệ hằng
Đại bi - Đại nguyện - Đại thánh - Đại từ
Đức thượng đế, nguyên dương nguyên thủy
Khai sơn hộ giáo linh ứng Hùng Vương
Tri ân hữu vạn báo đáp vô nhất
Tiên thánh tại đàn tiền
Cảnh hóa phù hữu Đế quân
Hùng Vương thánh tổ
Hưng hành diệu đạo thiên tôn.

.............*****.............

Ngũ Hổ Thu Kinh
NGŨ PHƯƠNG HỔ THẦN QUAN TÁN
Tán viết :
Cực chi ngũ hành
Địa chi ngũ phương
Nhân chi ngũ luân
Thiên chi ngũ thường (1)
Ngưỡng nhi quan yên
Ngũ đế thị Hoàng
Hoàn nhi liệt yên
Ngũ hầu nghi Vương (2)
Ngũ Kinh Ngũ Vỹ
Vân Hán vi chương
Ngũ Xa
Ngũ Hoành
Đẩu vận tề quang (3)
Đồ thành ngũ điểm
Ngũ số chương dã
Trù tự Ngũ sự
Ngũ phúc khang dã (4)
Ngũ thổ toại tính
Hậu đức vô cương
Ngũ quan tư chức
Thuận đức giả xương (5)
Như tấu Ngũ âm
Thần nhân kỳ khương
Như điều Ngũ vị
Đỉnh nại kỳ trương (6)
Thánh thể năng cần
Ngũ cốc dụng lương
Thánh tâm duy tịnh
Ngũ trần đốn vong (7)
Ư đông ư tây
Nam Bắc trung ương
Biến nhi hóa chi
Ngũ nhạc đường đường (8)
Vi thanh vi bạch
Xích hắc huyền hoàng
Thần nhi thông chi
Ngũ vị dương dương (9)



Thần Nông Viêm Đế

Ông tổ pháp thuật thần bí của người Lạc Việt

Chú giải :Cực tức khí Thái cực trước khi phân định đất trời
tuy vậy trong đó Thái cực đã chứa âm dương và bao hàm cả sự hình thành nên Ngũ hành là
Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ
Đất có ngũ phương là : Trung ương
Đông – Tây – Nam- Bắc
Đạo làm người phải lấy chữ Ngũ luân là năm mối quan hệ giữa: Vua tôi- cha con- vợ chồng- anh em- bạn bè
Trời cũng có Ngũ thường là Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí- Tín Ngẩng đầu lên mà quan sát
để thấy chòm sao Ngũ Đế tôn nghiêm mà chính vị là sao Hoàng Đế
sao Thanh Đế ở phương Đông
sao Xích Đế ở phương Nam
sao Bạch Đế ở phương Tây
sao Hắc Đế ở phương Bắc Ta lại thấy các vì sao giăng quanh nhau mà vẫn phân định rõ từng vị trí
Chòm sao Ngũ Hầu gồm năm sao Đế Sư
Đê Hữu Tam Công
Bác Sĩ và Thái Sư chiếu mệnh cho mỗi vương triều(3) Kinh
Vỹ là tên các chòm sao : Vân Hán là tên gọi Sông Thiên Hà hoặc gọi là dải Ngân Hà;
Ngân Hán tạo nên nét đẹp cả bầu trời Sao Xa
sao Hoành là hai sao nằm ở vị trí chuôi của chòm sao Bắc Đẩu
khi sao Đẩu chuyển thì tất cả đều lấp lánh theo
(4) Trong Thiên Hồng Phạm Cửu trù của Kinh Dịch gọi Ngũ sự là : Mạo (dung mạo)
Ngôn (lời nói) Thị (xem)
Thính (nghe) và Tư (suy nghĩ)
còn Ngũ phúc là : Thọ (sống lâu)
Phú (giàu có) Khang minh (mạnh khỏe)
Du hảo đức (vui theo đức tốt) và Khảo chung mệnh (chết được nhẹ nhàng)
Ngũ điểm (năm chấm) trên lưng con Long Mã đã tạo nên Hà Đồ và năm con số trên lưng con Rùa đã làm nên Lạc Thư - Hai cơ sở để tạo nên thuyết Ngũ hành tương sinh và Ngũ hành tương khắ
(5) Đất chia làm năm loại : Xanh- vàng- trắng- đỏ-
đen và vạn vật cũng phải hợp với từng tính chất thổ nghi mà sinh trưởng
Biết thích nghi với điều tự nhiên thì ắt sẽ cho ta công đức sâu dày không bao giờ hết
Năm giác quan của con người ta đều có chức năng riêng biệt
biết sử dụng triệt để các chức năng là đã thuận theo cái đức của tự nhiên và do đó sẽ nhất định được phát triển vậy
(6) Làm được những điều nói trên thì khác nào tấu lên khúc nhạc ngũ âm (gồm : Cung- Thương- Giốc-
Chủy- Vũ) để cho cả Thần và người đều vui vẻ
Như điều hòa được ngũ vị (gồm : Mặn- ngọt-
đắng- cay- chua) như đúc nên chiếc đỉnh để khuếch trương thành quả
(7) Nếu biết làm việc siêng năng thì ngũ cốc sẽ bồi đắp cho ta những kho lương thực dồi dào
Nếu lòng ta thanh tịnh thì ngũ trần cũng lập tức tiêu vong
(8) Dù Đông- Tây- Nam- Bắc- Trung ương (tức ngũ phương) có biến hóa đổi dời thì ta vẫn phải giữ cho tâm vững vàng như Ngũ nhạc (tức Đông Nhạc - Thái Sơn- Tây Nhạc - Hoa Sơn- Nam Nhạc - Hành Sơn-
Bắc Nhạc - Hằng Sơn và Trung Nhạc - Tung Sơn)
(9) Dẫu cho xanh hay trắng- đen- đỏ hoặc vàng thì cũng chẳng sao. Vì khi Thần và người cùng cảm ứng thông suốt cho nhau thì sẽ tạo nên sự linh hiển và Ngũ vị sẽ được vững vàng lồng lộng